
Phường Uông Bí, Quảng Ninh · Di tích tôn giáo
Chùa Ba Vàng
Hãy hình dung một ngôi chùa Một Cột, không phải giữa Hà Nội mà giữa hồ Bán Nguyệt, ở lưng chừng một ngọn núi tại Uông Bí, Quảng Ninh. Quanh nó là cả một quần thể chùa xây mới. Còn của ngôi chùa xưa trên núi này, thứ sót lại chỉ là một cây hương đá mòn chữ và vài hiện vật nữa.
Hãy hình dung một ngôi chùa Một Cột, không phải giữa Hà Nội mà giữa hồ Bán Nguyệt, ở lưng chừng một ngọn núi tại Uông Bí, Quảng Ninh. Quanh nó là cả một quần thể chùa xây mới. Còn của ngôi chùa xưa trên núi này, thứ sót lại chỉ là một cây hương đá mòn chữ và vài hiện vật nữa. Đó là chùa Ba Vàng, tên chữ Hán là Bảo Quang Tự, nghĩa là "ánh sáng quý báu". Chùa nằm lưng chừng núi Thành Đẳng, một nhánh núi nối về dãy Yên Tử, và nhìn ra sông Bạch Đằng. Đây là một sơn môn của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, dòng thiền do vua Trần Nhân Tông lập. Hai chữ "Ba Vàng", theo lời giải thích của nhà chùa, là Tam Bảo: Phật, Pháp, Tăng.
Ba Vàng: chùa Một Cột trên núi và cây hương đá mòn chữ
Lớp cũ của ngôi chùa mỏng đến bất ngờ. Hồ sơ di tích của tỉnh ghi chùa có từ đầu thế kỷ XVIII, đời vua Lê Dụ Tông. Nhà chùa thì cho rằng chùa có từ thời Trần, dựa vào hoa văn gạch ngói: những viên gạch lát nền trang trí hoa bốn cánh, loại hoa văn được cho là đời Trần. Chuyện kể rằng năm 1987, một lão nông đi tìm đàn bò lạc, được báo mộng lên núi, vấp ngã rồi thấy gạch ngói cùng một tấm bia đá khắc chữ Nho. Năm 1988 chùa được dựng lại bằng gỗ, đến năm 1993 thì thành một ngôi chùa nhỏ bằng gạch. Của ngôi chùa xưa, hôm nay chỉ còn một cây hương đá khắc tên chùa và tên núi, chữ Hán đã mòn tới mức rất khó đọc, một tấm bia linh vị thiền sư, và mấy viên tảng kê chân cột.
Ngôi chùa bạn bước vào hôm nay là một công trình khác hẳn. Năm 2011 chùa khởi công xây mới với quy mô lớn, và năm 2014 thì khánh thành. Lối lên đi từ Cổng đá, nơi tượng mười vị đại đệ tử của Đức Phật ôm bình bát khất thực. Qua cổng Tam Quan Trung là gặp dòng thác nhỏ róc rách qua khe đá, rồi tới chùa Một Cột giữa hồ Bán Nguyệt, rồi cổng Tam Quan nội nhìn ra toàn cảnh Uông Bí và sông Bạch Đằng. Hai bên hành lang sân chùa là 18 tượng La Hán tạc từ đá xanh nguyên khối, dát vàng. Đại Hùng Bảo Điện có hai tầng, tám mái, trong đó tượng pháp, hoành phi, câu đối đều sơn son thiếp vàng. Ngay dịp khánh thành, một tổ chức kỷ lục đã trao cho chùa danh hiệu "ngôi chùa trên núi có chính điện lớn nhất Đông Dương".
Vậy ở một ngôi chùa phần lớn là xây mới, di sản nằm ở đâu? Bạn có tò mò một ngôi chùa trên núi thời Lê từng trông ra sao không, khi thứ còn lại chỉ là một cây hương đá gần như không đọc được chữ? Có lẽ nửa còn lại của câu trả lời nằm ở những gì vẫn đang tiếp diễn. Sau chính điện, tầng trên của Phụng Tổ Đường thờ Trúc Lâm Tam Tổ cùng tổ khai sơn Tuệ Bích Phổ Giác. Bên trái chính điện, bảo tàng giữ tấm bia đặt trên lưng rùa đá. Khách vẫn xin nước Giếng Thần mang về, giếng mà nhà chùa nói chưa bao giờ cạn. Chùa cũng đã mở lễ hội hoa cúc vài kỳ vào dịp Tết Trùng Cửu, lần đầu năm 2013. Hoa cúc được chọn vì gắn với thơ của Đệ tam tổ Huyền Quang, và lễ hội có cả trình diễn thư pháp bài thơ "Hoa cúc" của ông. Phải là chùa cổ thì mới được coi là di sản? Hay di sản là thứ người hôm nay chọn giữ lại, và cách họ giữ nó? Lên lưng chừng núi Thành Đẳng là một cách để bạn tự tìm câu trả lời.
Ảnh
5 trong 5 tấm đã lưuRachel41Ng (tải lên Commons) — ảnh mang logo Chùa Ba Vàng; EXIF ghi bản quyền Ban Văn hoá Chùa Ba Vàng· CC0 · nguồn
Rachel41Ng (tải lên Commons) — ảnh mang logo Chùa Ba Vàng; EXIF ghi bản quyền Ban Văn hoá Chùa Ba Vàng· CC0 · nguồn
Rachel41Ng (tải lên Commons) — ảnh mang logo Chùa Ba Vàng; EXIF ghi bản quyền Ban Văn hoá Chùa Ba Vàng· CC0 · nguồn
Nghien87 — ảnh mang logo Chùa Ba Vàng· CC BY-SA 4.0 · nguồn
Hangdo1409· CC BY-SA 4.0 · nguồn
Đủ để quyết định đi hay không
- Nơi này là gì
- Chùa thuộc thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, di tích cấp tỉnh từ năm 2007
- Ở đâu
- Lưng chừng núi Thành Đẳng, ở Uông Bí, Quảng Ninh
- Có từ bao giờ
- Đầu thế kỷ XVIII, đời vua Lê Dụ Tông; quần thể hiện nay xây từ 2011 đến 2014
- Dấu tích chùa xưa
- Cây hương đá, bia linh vị thiền sư, tảng kê chân cột
- Đáng tìm xem
- Chùa Một Cột trên hồ Bán Nguyệt · 18 tượng La Hán đá xanh · bia rùa đá trong bảo tàng
- Vé
- Không thu vé tham quan
Lời của người đã đến
Chùa không thu vé tham quan. Ba Vàng đông nhất vào mùa khai hội đầu xuân. Muốn đi thong thả thì tránh mùa ấy. Nếu đi đúng mùa lễ hội thì chùa có cơm chay miễn phí phát cho khách thập phương. Đường lên tượng A Di Đà và nơi thờ xá lợi khá dốc. Chùa hợp với người đã biết Yên Tử và muốn xem thêm một sơn môn Trúc Lâm khác, và với người thích đi tìm vài mảnh đá cũ giữa một công trình mới.
Vibe
Nhãn
Nguồn
Tên chùa, hạng di tích cấp tỉnh xếp năm 2007, loại hình Lịch sử – Văn hoá và Danh thắng, niên đại thời Lê theo hồ sơ và các lần trùng tu 1988, 1993 lấy từ Danh mục di tích tỉnh Quảng Ninh kèm Quyết định 436/QĐ-UBND ngày 03/02/2026 của UBND tỉnh, đăng trên trang Sở Văn hoá và Thể thao Quảng Ninh. Tên phường sau đợt sắp xếp năm 2025 được đối chiếu với danh sách sắp xếp đơn vị hành chính trên cổng Chính sách và Cuộc sống của Chính phủ; cũng theo cổng này (24/08/2026), từ ngày 01/9/2026 Quảng Ninh là thành phố trực thuộc trung ương. Tên chữ Bảo Quang Tự, lời giải thích 'Ba Vàng' là Tam Bảo, truyền tích năm 1987, lộ trình tham quan, Rừng thiền, Giếng Thần, việc không thu vé và nhịp tu học lấy từ trang của chính chùa, trong đó có bài hướng dẫn tham quan năm 2020; đây là lời của nhà chùa. Cách hiểu 'Ba Vàng' là tên Nôm của núi Thành Đẳng, hoa văn gạch cổ và câu đối của ngôi chùa năm 1993 lấy từ Dân trí (2014). Hiện vật chùa xưa, lần dựng lại bằng gỗ năm 1988, tên thiền sư khai sơn và việc khởi công xây mới năm 2011 lấy từ VietNamNet; ngày khánh thành 9/3/2014 từ Zing News; dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử từ Tiền Phong (2019); kiến trúc chính điện và hành lang La Hán từ trang Công nghiệp Môi trường và Báo Lào Cai; nhà thờ Tam tổ từ Báo Quảng Ninh (2014); Đại giảng đường từ Thanh Niên (22/5/2023); lễ hội hoa cúc từ Giác Ngộ (2013); cơm chay mùa hội từ Đại biểu Nhân dân (17/02/2023); lượng khách mùa khai xuân, việc không có hàng quán và gửi xe miễn phí từ Tuổi Trẻ (24/02/2026). Chúng tôi không đưa ra: độ cao 340 m, vì mô hình độ cao cho vị trí chùa chỉ khoảng 200 m và con số này là một đoạn văn được chép qua lại giữa nhiều báo; năm 1676, vì đó không phải năm Ất Dậu; năm sinh, năm mất của thiền sư, diện tích chính điện và khuôn viên, kích thước tượng Quán Thế Âm và cây hương đá, vì các nguồn ghi khác nhau; nguyên văn chữ khắc trên cây hương đá, vì có hai bản đọc khác nhau và chữ đã mòn; hướng của chính điện, vì hai nguồn trái nhau; chuyện tổ sư chữa bệnh hiểm nghèo, vì chỉ có một nguồn mang giọng quảng bá; và câu 'chùa đông khách quanh năm', vì bài báo năm 2019 chứa câu đó đang tả thời trước và chưa có nguồn gần đây nào xác nhận. Năm 1706 là con số hồ sơ di tích ghi; chúng tôi chưa coi đó là năm dựng chùa đã xác lập, vì dòng chữ trên cây hương đá được báo chí thuật lại có thể rơi vào năm 1705.
Dữ liệu về địa điểm được tổng hợp từ nhiều nguồn trên internet do đội ngũ các AI agent tự động đảm nhận: thu thập, làm giàu thông tin, kiểm định, phản biện, chấm điểm, vi phẫu, phúc thẩm và xác thực.
Đánh giá & bình luận
Đọc thì ai cũng đọc được. Đăng nhập để đánh giá, bình luận và thả tim.